VỢ HOẶC CHỒNG CÓ QUYỀN ĐƠN PHƯƠNG YÊU CẦU LY HÔN KHÔNG?

http://luattancang.com

VỢ HOẶC CHỒNG CÓ QUYỀN ĐƠN PHƯƠNG YÊU CẦU LY HÔN KHÔNG?

VỢ HOẶC CHỒNG CÓ QUYỀN ĐƠN PHƯƠNG YÊU CẦU LY HÔN KHÔNG?

Khi cuộc sống vợ chồng phát sinh những mâu thuẫn trầm trọng không thể hàn gắn, ly hôn trở thành cơ chế pháp lý tất yếu để giải phóng cho cả hai bên. Trong thực tế, không phải lúc nào quyết định chấm dứt hôn nhân cũng nhận được sự đồng thuận từ hai phía.

Hôn nhân được xây dựng trên nền tảng tình yêu, sự tự nguyện và tôn trọng lẫn nhau. Tuy nhiên, khi cuộc sống vợ chồng phát sinh những mâu thuẫn trầm trọng không thể hàn gắn, ly hôn trở thành cơ chế pháp lý tất yếu để giải phóng cho cả hai bên. Trong thực tế, không phải lúc nào quyết định chấm dứt hôn nhân cũng nhận được sự đồng thuận từ hai phía. Câu hỏi đặt ra là: “Vợ hoặc chồng có được quyền đơn phương ly hôn hay không khi đối phương cố tình không đồng ý?”. Bài viết dưới đây sẽ phân tích toàn diện các quy định của pháp luật hiện hành về quyền đơn phương ly hôn, các điều kiện đi kèm, cũng như những giới hạn pháp lý nhằm bảo vệ đối tượng yếu thế.


QUYỀN ĐƠN PHƯƠNG LY HÔN THEO QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT
"Điều 36 Hiến Pháp 2013
1. Nam, nữ có quyền kết hôn, ly hôn. Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau.
2. Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình, bảo hộ quyền lợi của người mẹ và trẻ em."
"Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình 2014
1. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.
2. Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.
3. Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi."

"Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên
1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.
2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.
3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia."

Theo quy định tại khoản 1 Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, pháp luật thừa nhận một bên vợ hoặc chồng có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn mà không bắt buộc phải có sự đồng ý của bên còn lại. Điều này phù hợp với tinh thần của Điều 36 Hiến pháp 2013 ghi nhận quyền kết hôn, ly hôn dựa trên nguyên tắc tự nguyện. Do đó, việc ép buộc một bên phải chấp nhận các điều kiện của đối phương mới “cho ly hôn” là hành vi vi phạm nguyên tắc tự do hôn nhân.
CÁC TRƯỜNG HỢP NGƯỜI CHỒNG BỊ HẠN CHẾ QUYỀN ĐƠN PHƯƠNG LY HÔN
Mặc dù công nhận quyền tự do ly hôn, Điều 36 Hiến pháp 2013 cũng khẳng định Nhà nước ưu tiên bảo vệ quyền lợi của người mẹ và trẻ em. Nhằm cụ thể hóa nguyên tắc này, khoản 3 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 và Điều 2 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP quy định các trường hợp người chồng không được quyền đơn phương xin ly hôn:
Vợ đang có thai: Được xác định từ khi cơ sở y tế có thẩm quyền xác nhận mang thai cho đến khi sinh con hoặc đình chỉ thai nghén (không phân biệt thai nhi là của ai).
Vợ sinh con hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi: Áp dụng cho cả con đẻ và con nuôi. Hạn chế này có hiệu lực trong vòng 12 tháng kể từ ngày vợ sinh con, ngày con chết (nếu chết dưới 12 tháng tuổi), hoặc ngày đình chỉ thai nghén từ 22 tuần tuổi trở lên.
Trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo: Chồng của người mang thai hộ hoặc chồng của người nhờ mang thai hộ không có quyền xin ly hôn khi người mang thai hộ hoặc người vợ đang mang thai, sinh con hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi.
(Lưu ý: Hạn chế này mang tính chất một chiều, chỉ áp dụng đối với người chồng. Người vợ vẫn có đầy đủ quyền nộp đơn đơn phương ly hôn trong các giai đoạn nêu trên).
CĂN CỨ PHÁP LÝ ĐỂ TÒA ÁN CHẤP NHẬN CHO ĐƠN PHƯƠNG LY HÔN
Khi một bên nộp đơn (nguyên đơn) và phía còn lại không đồng ý (bị đơn), Tòa án sẽ tiến hành hòa giải. Trường hợp hòa giải không thành, theo Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, Tòa án chỉ giải quyết cho ly hôn khi nguyên đơn chứng minh được một trong các căn cứ:
Có hành vi bạo lực gia đình: Bị đối phương thực hiện các hành vi bạo lực quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình (xâm phạm sức khỏe, tính mạng; lăng mạ, chì chiết; bỏ mặc không chăm sóc; cưỡng ép tình dục; kiểm soát tài chính, cô lập quan hệ xã hội...).
Vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng: Ví dụ như phá tán tài sản gia đình, không thương yêu, chăm sóc lẫn nhau làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.
Vợ hoặc chồng bị Tòa án tuyên bố mất tích, xem thêm tại
đây
THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT VÀ QUY TRÌNH TẠI TÒA ÁN
Thẩm quyền của Tòa án (Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015): Đơn phương ly hôn là vụ án tranh chấp dân sự thuộc thẩm quyền sơ thẩm của Tòa án nhân dân khu vực. Nguyên đơn phải gửi đơn khởi kiện đến Tòa án nơi bị đơn cư trú hoặc làm việc (trừ trường hợp hai bên có thỏa thuận bằng văn bản chọn Tòa án nơi nguyên đơn cư trú/làm việc, hoặc có tranh chấp về bất động sản).
Trường hợp hòa giải thành: Nếu hai bên thống nhất được việc ly hôn, phân chia tài sản và nuôi con, Tòa án sẽ lập biên bản hòa giải thành. Sau 07 ngày, nếu không bên nào đổi ý kiến, Tòa án ra quyết định công nhận sự thỏa thuận. Quyết định này có hiệu lực ngay và không bị kháng cáo, kháng nghị.
Trường hợp hòa giải không thành: Tòa án sẽ đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung và quyết định dựa trên các bằng chứng về mâu thuẫn gia đình do nguyên đơn cung cấp.
KẾT LUẬN
Tóm lại, pháp luật Việt Nam bảo đảm quyền đơn phương ly hôn như một công cụ pháp lý quan trọng để bảo vệ quyền tự do cá nhân khi cuộc sống vợ chồng không còn đạt được mục đích ban đầu. Tuy nhiên, quyền này được thiết kế đi kèm với các giới hạn nghiêm ngặt đối với người chồng nhằm bảo hộ tối đa cho sức khỏe, tinh thần của người mẹ và trẻ em. Việc nắm rõ các căn cứ pháp lý, quy trình hòa giải cũng như xác định đúng Tòa án có thẩm quyền sẽ giúp người muốn đơn phương ly hôn chủ động bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình một cách đúng đắn và nhanh chóng nhất.
Liên hệ Luật sư tư vấn:
Trên đây là những phân tích của Công ty Luật Tân Cảng về việc quyền đơn phương ly hôn của vợ hoặc chồng. Để được tư vấn cụ thể hơn về các vấn đề pháp lý liên quan, cũng như được giải đáp các thắc mắc, được hỗ trợ rà soát hồ sơ pháp lý, đánh giá chứng cứ và xây dựng phương án giải quyết phù hợp khi gặp phải các vướng mắc pháp lý tương tự, quý khách hàng có thể liên hệ với Công ty Luật Tân Cảng qua thông tin bên dưới. Với đội ngũ Luật sư chuyên nghiệp và nhiều kinh nghiệm, Công ty Luật Tân Cảng luôn sẵn sàng lắng nghe những khó khăn và đồng hành cùng quý khách hàng trong suốt quá trình bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Công ty Luật TNHH MTV Tân Cảng
Địa chỉ: Tầng 2, số 85, đường số 13, Khu dân cư Vạn Phúc 1, phường Hiệp Bình, TP. Hồ Chí Minh
Điện thoại: 0965 921 058
Email: luattancang@gmail.com
Website: luattancang.com

 

Đăng ký tư vấn