KÝ HỢP ĐỒNG CỘNG TÁC VIÊN CÓ PHẢI ĐÓNG BẢO HIỂM XÃ HỘI?

http://luattancang.com

KÝ HỢP ĐỒNG CỘNG TÁC VIÊN CÓ PHẢI ĐÓNG BẢO HIỂM XÃ HỘI?

KÝ HỢP ĐỒNG CỘNG TÁC VIÊN CÓ PHẢI ĐÓNG BẢO HIỂM XÃ HỘI?

Trong bối cảnh doanh nghiệp ngày càng ưu tiên tính linh hoạt trong sử dụng nhân sự, hợp đồng cộng tác viên (HĐ CTV) trở thành hình thức hợp tác phổ biến, đặc biệt đối với công việc bán thời gian hoặc theo dự án.

Câu hỏi của người dân: Công ty tôi muốn ký Hợp đồng cộng tác viên (HĐ CTV) với một số nhân sự làm việc bán thời gian và hỗ trợ các dự án chuyên môn. Cho tôi hỏi, ký Hợp đồng cộng tác viên thì doanh nghiệp có bắt buộc phải đóng Bảo hiểm xã hội (BHXH) cho họ hay không? Trường hợp doanh nghiệp và cộng tác viên thỏa thuận tự nguyện không đóng BHXH thì có vi phạm pháp luật không?


Luật sư tư vấn:
Trong bối cảnh doanh nghiệp ngày càng ưu tiên tính linh hoạt trong sử dụng nhân sự, hợp đồng cộng tác viên (HĐ CTV) trở thành hình thức hợp tác phổ biến, đặc biệt đối với công việc bán thời gian hoặc theo dự án. Tuy nhiên, liệu việc ký HĐ CTV có thực sự giúp doanh nghiệp không phải đóng bảo hiểm xã hội (BHXH)?
Trên thực tế, nghĩa vụ BHXH không được xác định chỉ dựa vào tên gọi hợp đồng mà phụ thuộc vào bản chất quan hệ giữa các bên và điều kiện theo quy định pháp luật. Việc lựa chọn sai hình thức hợp đồng có thể khiến doanh nghiệp phát sinh nghĩa vụ truy đóng BHXH và các chế tài liên quan.
Vậy ranh giới giữa hợp đồng cộng tác viên và hợp đồng lao động được xác định như thế nào? Doanh nghiệp có thể thỏa thuận với cộng tác viên về việc không tham gia BHXH hay không?
CĂN CỨ XÁC ĐỊNH QUAN HỆ LAO ĐỘNG
Bộ luật Lao động hiện hành quy định việc xác định quan hệ lao động dựa trên bản chất của thỏa thuận và cách thức thực hiện trên thực tế, thay vì chỉ căn cứ vào tên gọi của hợp đồng.
Căn cứ Khoản 1 Điều 13 Bộ luật Lao động 2019:
"Hợp đồng lao động là sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả công, tiền lương, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động.
Trường hợp hai bên thỏa thuận bằng tên gọi khác nhưng có nội dung thể hiện về việc làm có trả công, tiền lương và sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên thì được coi là hợp đồng lao động."

Như vậy, dù văn bản/thỏa thuận có tiêu đề/tên gọi là gì (như "Hợp đồng cộng tác viên", "Hợp đồng dịch vụ", "Hợp đồng tư vấn", hoặc thậm chí không dùng chữ "Hợp đồng" mà đặt tên là "Biên bản thỏa thuận", "Bản cam kết", "Thỏa thuận công tác"...), việc xác định có phải là hợp đồng lao động hay không phải được đánh giá dựa trên tổng thể nội dung thỏa thuận và cách thức thực hiện trên thực tế. Nếu thực tế làm việc thể hiện đồng thời các yếu tố: (i) có việc làm; (ii) có trả công, tiền lương; và (iii) có sự quản lý, điều hành, giám sát của doanh nghiệp, thì thỏa thuận đó có thể được xác định là hợp đồng lao động, bất kể tên gọi được sử dụng.
Ngược lại, nếu cộng tác viên thực hiện công việc trên cơ sở độc lập, tự chủ, không chịu sự quản lý, điều hành, giám sát mang tính chất quan hệ lao động của doanh nghiệp, thì quan hệ giữa các bên có thể được xác định là hợp đồng dịch vụ theo Điều 513 Bộ luật Dân sự 2015. Khi đó, bên cung ứng dịch vụ thực hiện công việc theo thỏa thuận và được bên sử dụng dịch vụ thanh toán tiền dịch vụ tương ứng.
KHI NÀO HỢP ĐỒNG CỘNG TÁC VIÊN PHẢI ĐÓNG BHXH?
Sau khi xác định bản chất hợp đồng, doanh nghiệp cần đối chiếu với Luật Bảo hiểm xã hội 2024 để xác định cộng tác viên có thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc hay không.
Căn cứ Điểm a Khoản 1 Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 quy định:
"1. Người lao động là công dân Việt Nam thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc bao gồm:
a) Người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động xác định thời hạn từ đủ 01 tháng trở lên, kể cả trường hợp người lao động và người sử dụng lao động thỏa thuận bằng tên gọi khác nhưng có nội dung thể hiện về việc làm có trả công, tiền lương và sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên;"

Bên cạnh đó, căn cứ khoản 5 Điều 33 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 quy định:
"Người lao động quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 2 của Luật này mà không hưởng tiền lương từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng thì không đóng bảo hiểm xã hội tháng đó, trừ trường hợp hai bên có thỏa thuận khác."
Theo đó, nghĩa vụ tham gia BHXH bắt buộc được xác định dựa trên bản chất của hợp đồng và thời gian hưởng tiền lương trong tháng. Cụ thể:
Nếu hợp đồng CTV thực chất là hợp đồng dịch vụ, hoặc là HĐLĐ có thời hạn dưới 01 tháng, thì không thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc. Trường hợp thuộc đối tượng tham gia nhưng không hưởng tiền lương từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng thì không đóng BHXH của tháng đó theo quy định.
Ngược lại, nếu hợp đồng CTV thực chất là HĐLĐ từ đủ 01 tháng trở lên và người lao động không thuộc trường hợp nêu trên thì thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc.
Như vậy, tên gọi “hợp đồng cộng tác viên” không phải là căn cứ quyết định nghĩa vụ BHXH; doanh nghiệp phải xem xét bản chất quan hệ và tình hình thực tế để xác định đúng nghĩa vụ.
THỎA THUẬN KHÔNG ĐÓNG BHXH CÓ HỢP PHÁP KHÔNG?
Khi hợp đồng CTV thực chất là hợp đồng lao động thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc, doanh nghiệp có trách nhiệm thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đăng ký và đóng BHXH theo quy định pháp luật.
Căn cứ khoản 1 và khoản 4 Điều 13 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, người sử dụng lao động có trách nhiệm:
" 1. Đăng ký tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc cho người lao động theo quy định của Luật này; phối hợp với cơ quan bảo hiểm xã hội trong việc trả sổ bảo hiểm xã hội bản giấy cho người lao động.
…..
4. Đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc cho người lao động theo quy định tại Điều 34 của Luật này và hằng tháng trích khoản tiền phải đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định tại Điều 33 của Luật này từ tiền lương của người lao động để đóng cùng một lúc vào quỹ bảo hiểm xã hội."

Đồng thời, khoản 1 Điều 34 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 quy định:
“1. Người sử dụng lao động hằng tháng đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc tính trên tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc của đối tượng quy định tại các điểm a, b, c, d, i, k và l khoản 1 và khoản 2 Điều 2 của Luật này như sau:
a) 3% vào quỹ ốm đau và thai sản;
b) 14% vào quỹ hưu trí và tử tuất.”

Do đó, việc doanh nghiệp và cộng tác viên thỏa thuận không đóng BHXH hoặc thay khoản đóng BHXH bằng một khoản tiền khác không làm thay đổi nghĩa vụ tham gia BHXH bắt buộc khi quan hệ giữa các bên thực chất là quan hệ lao động thuộc diện phải tham gia.
CHẾ TÀI XỬ PHẠT VI PHẠM THEO NGHỊ ĐỊNH 283/2026/NĐ-CP
Trường hợp cơ quan chức năng kiểm tra hoặc phát sinh tranh chấp lao động, nếu phát hiện vi phạm quy định về đóng BHXH bắt buộc, các bên sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính theo Nghị định 283/2026/NĐ-CP ngày 15/07/2026 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội (BHXH) và người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng (có hiệu lực từ ngày 10/09/2026):
Mức phạt đối với Người lao động:
Căn cứ Điểm a Khoản 2 Điều 48 Nghị định 283/2026/NĐ-CP:
"2. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với người lao động có một trong các hành vi sau đây:
a) Thỏa thuận với người sử dụng lao động không tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp, tham gia không đúng đối tượng hoặc tham gia không đúng mức quy định;"

Mức phạt đối với Người sử dụng lao động:
Căn cứ Khoản 2 Điều 43 Nghị định 283/2026/NĐ-CP:
"2. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 75.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có hành vi không đăng ký hoặc đăng ký không đầy đủ số người phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày hết thời hạn quy định..." (Lưu ý: Mức phạt cụ thể tùy thuộc vào số lượng người lao động bị vi phạm).
Biện pháp khắc phục hậu quả:
Ngoài tiền phạt, người sử dụng lao động còn bị buộc đăng ký đầy đủ số người tham gia, đóng đủ số tiền BHXH chậm đóng và nộp thêm khoản tiền bằng 0,03%/ngày tính trên số tiền và số ngày chậm đóng theo quy định tại khoản 1 Điều 40 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 và khoản 4 Điều 43 Nghị định 283/2026/NĐ-CP.
LỜI KHUYÊN DÀNH CHO DOANH NGHIỆP
Để hạn chế rủi ro pháp lý, doanh nghiệp cần:
1. Rà soát bản chất quan hệ hợp đồng:
Nếu cộng tác viên thực tế làm việc dưới sự quản lý, điều hành, giám sát của doanh nghiệp và quan hệ giữa các bên có đầy đủ dấu hiệu của quan hệ lao động, doanh nghiệp cần giao kết hợp đồng lao động phù hợp và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ BHXH theo quy định.
2. Xây dựng hợp đồng dịch vụ đúng bản chất:
Đối với công việc được thực hiện độc lập, tự chủ, hợp đồng cần quy định rõ phạm vi công việc, kết quả thực hiện, phương thức nghiệm thu, thù lao và trách nhiệm của các bên theo Điều 513 Bộ luật Dân sự 2015; tránh việc chỉ thay đổi tên gọi hợp đồng nhằm loại trừ nghĩa vụ BHXH.
Liên hệ Luật sư tư vấn:
Trên đây là những phân tích của Công ty Luật Tân Cảng về ký hợp đồng cộng tác viên có phải đóng bảo hiểm xã hội? Ranh giới pháp lý và rủi ro cho doanh nghiệp. Để được tư vấn cụ thể hơn về các vấn đề pháp lý liên quan, cũng như được giải đáp các thắc mắc, được hỗ trợ rà soát hồ sơ pháp lý, đánh giá chứng cứ và xây dựng phương án giải quyết phù hợp khi gặp phải các vướng mắc pháp lý tương tự, quý khách hàng có thể liên hệ với Công ty Luật Tân Cảng qua thông tin bên dưới. Với đội ngũ Luật sư chuyên nghiệp và nhiều kinh nghiệm, Công ty Luật Tân Cảng luôn sẵn sàng lắng nghe những khó khăn và đồng hành cùng quý khách hàng trong suốt quá trình bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Công ty Luật TNHH MTV Tân Cảng
Địa chỉ: Tầng 2, số 85, đường số 13, Khu dân cư Vạn Phúc 1, phường Hiệp Bình, TP. Hồ Chí Minh
Điện thoại: 0965 921 058
Email: luattancang@gmail.com
Website: luattancang.com

 

Đăng ký tư vấn