KHI NÀO CÓ THỂ BỊ CÔNG KHAI DANH TÍNH, KHÓA TÀI KHOẢN KHI ĐĂNG TIN GIẢ TRÊN MẠNG XÃ HỘI?

http://luattancang.com

KHI NÀO CÓ THỂ BỊ CÔNG KHAI DANH TÍNH, KHÓA TÀI KHOẢN KHI ĐĂNG TIN GIẢ TRÊN MẠNG XÃ HỘI?

KHI NÀO CÓ THỂ BỊ CÔNG KHAI DANH TÍNH, KHÓA TÀI KHOẢN KHI ĐĂNG TIN GIẢ TRÊN MẠNG XÃ HỘI?

Mạng xã hội ngày càng trở thành một trong những kênh phổ biến để tiếp nhận và chia sẻ thông tin. Tuy nhiên, không phải mọi thông tin được lan truyền trên không gian mạng đều chính xác. Trường hợp cá nhân đăng tải hoặc chia sẻ thông tin chưa được kiểm chứng, nếu thông tin đó được xác định là tin giả, tin sai sự thật, người thực hiện hành vi có thể phải đối mặt với những biện pháp xử lý theo quy định pháp luật.

Đáng chú ý, từ ngày 05/10/2026, Nghị định số 328/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định phòng, chống tin giả, tin sai sự thật chính thức có hiệu lực, thiết lập cơ chế xử lý từ kiểm chứng, xác minh thông tin đến gắn nhãn, công bố, cảnh báo, ngăn chặn và gỡ bỏ tin giả, tin sai sự thật.

Vậy người đăng, chia sẻ hoặc bình luận tin giả trên mạng xã hội có thể bị công khai danh tính hoặc khóa tài khoản trong trường hợp nào?


KHI NÀO MỘT THÔNG TIN ĐƯỢC XÁC ĐỊNH LÀ TIN GIẢ, TIN SAI SỰ THẬT?
Theo khoản 1 Điều 3 Nghị định 328/2026/NĐ-CP quy định:
“Tin giả, tin sai sự thật là thông tin không có thật hoặc có một phần sự thật xâm hại đến an ninh, uy tín, hình ảnh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức gồm các loại thông tin: Thông tin giả, thông tin sai sự thật, thông tin sai lệch, thông tin giả mạo, thông tin bịa đặt, thông tin vu khống, thông tin xuyên tạc.”
Như vậy, việc một thông tin bị cho là “không đúng” chưa đồng nghĩa với việc thông tin đó đã được xác định là tin giả, tin sai sự thật theo Nghị định 328/2026/NĐ-CP.
Theo khoản 1 Điều 9 Nghị định 328/2026/NĐ-CP quy định:
“Cơ quan chức năng có thẩm quyền kiểm chứng, xác minh, làm rõ tin giả, tin sai sự thật gồm: các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các cấp kiểm chứng thông tin có dấu hiệu giả, sai sự thật theo quy định tại Điều 17, Điều 18, Điều 19, Điều 20, Điều 21 của Nghị định này. Trường hợp trong quá trình kiểm chứng thông tin có dấu hiệu tội phạm thì chuyển thông tin, vụ việc cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự hiện hành.”
Thông tin có dấu hiệu là tin giả, tin sai sự thật được kiểm chứng, xác minh, làm rõ trước khi thực hiện các biện pháp xử lý theo quy định. Kết quả kiểm chứng, xác minh là cơ sở để cơ quan có thẩm quyền xác định tính chất của thông tin và những chủ thể có liên quan.
Từ việc xác định thông tin là tin giả, tin sai sự thật, vấn đề tiếp theo cần làm rõ là ai có thể được xác định là người đã thực hiện hành vi liên quan đến thông tin đó.
KHÔNG CHỈ NGƯỜI TẠO RA TIN GIẢ, NGƯỜI CHIA SẺ VÀ BÌNH LUẬN CŨNG CÓ THỂ PHẢI CHỊU TRÁCH NHIỆM
Trong thực tế, một thông tin giả có thể được lan truyền qua nhiều tài khoản khác nhau. Người đầu tiên tạo ra thông tin có thể không phải là người trực tiếp khiến thông tin đó tiếp cận với số lượng lớn người dùng.
Theo khoản 2 Điều 9 Nghị định 328/2026/NĐ-CP quy định về kiểm chứng, xác minh, làm rõ thông tin có dấu hiệu giả, sai sự thật:
“a) Phân loại tin giả, tin sai sự thật: Cơ quan phát hiện, tiếp nhận thông tin tiến hành phân loại thông tin theo khoản 1 và khoản 2 Điều 4 của Nghị định này để tiến hành kiểm chứng hoặc chuyển cho các cơ quan, đơn vị chức năng theo thẩm quyền quy định tại Điều 17, Điều 18, Điều 19, Điều 20, Điều 21 của Nghị định này. Cơ quan chức năng có thẩm quyền ưu tiên kiểm chứng, xác minh, làm rõ thông tin thuộc điểm a khoản 1 Điều 4 của Nghị định này sau khi phân loại;
b) Xác minh thông tin có dấu hiệu giả, sai sự thật:
Xác định danh tính cá nhân, tổ chức phát ngôn, làm, lưu trữ, tàng trữ, cung cấp, đăng tải, phát tán, chia sẻ, bình luận tin giả, tin sai sự thật. Trường hợp các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các cấp không xác định được danh tính thì phối hợp với Bộ Công an tiến hành xác định danh tính cá nhân, tổ chức phát ngôn, làm, lưu trữ, tàng trữ, cung cấp, đăng tải, phát tán, chia sẻ, bình luận tin giả, tin sai sự thật;
Trong quá trình xác minh có dấu hiệu tội phạm thì chuyển cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự hiện hành;
c) Kết luận kiểm chứng thông tin có dấu hiệu giả, sai sự thật: Xác thực thông tin là tin giả, tin sai sự thật; thông tin không phải là tin giả, tin sai sự thật; thông tin không có điều kiện xác thực;
d) Kết luận cá nhân, tổ chức phát ngôn, làm, lưu trữ, tàng trữ, cung cấp, đăng tải, phát tán, chia sẻ, bình luận tin giả, tin sai sự thật và mức độ vi phạm.”

Trong quá trình kiểm chứng, xác minh, cơ quan có thẩm quyền có thể xác định cá nhân, tổ chức phát ngôn, làm, lưu trữ, tàng trữ, cung cấp, đăng tải, phát tán, chia sẻ hoặc bình luận tin giả, tin sai sự thật.
Quy định này cho thấy phạm vi xác định chủ thể liên quan đến tin giả không chỉ dừng ở người trực tiếp tạo ra nội dung. Người đăng tải lại, phát tán, chia sẻ hoặc bình luận cũng có thể được xác định trong quá trình xử lý nếu có hành vi thuộc phạm vi mà Nghị định quy định.
Điều này đặc biệt đáng lưu ý đối với người sử dụng mạng xã hội bởi suy nghĩ “chỉ chia sẻ lại, không phải người tạo ra” không đồng nghĩa với việc hành vi chia sẻ đương nhiên nằm ngoài phạm vi xem xét của cơ quan có thẩm quyền.
Tuy nhiên, việc một cá nhân có hành vi chia sẻ hoặc bình luận một thông tin không có nghĩa họ đương nhiên bị công khai danh tính. Để xác định có áp dụng biện pháp công bố, cảnh báo hay không, pháp luật còn đặt ra những điều kiện và căn cứ cụ thể.
KHI NÀO DANH TÍNH NGƯỜI LIÊN QUAN ĐẾN TIN GIẢ CÓ THỂ BỊ CÔNG KHAI?
Theo khoản 2 Điều 11 Nghị định 328/2026/NĐ-CP quy định:
“2. Nội dung công bố, cảnh báo gồm:
a) Công bố, cảnh báo thông tin là tin giả, tin sai sự thật sau khi gắn nhãn tin giả, tin sai sự thật đối với thông tin thuộc điểm c khoản 2 Điều 4 Nghị định này. Đối với thông tin thuộc điểm b khoản 2 Điều 4 Nghị định này thì việc công bố phải tuân thủ pháp luật về tiếp cận thông tin;
b) Trường hợp không công bố nhưng cảnh báo để cá nhân, tổ chức thận trọng hoặc không được sử dụng, đăng tải, phát tán thông tin gồm:
Trường hợp kết luận thông tin không có điều kiện xác thực;
Trường hợp xác thực là tin giả, tin sai sự thật thuộc điểm b khoản 2 Điều 4 Nghị định này;
c) Không công bố, cảnh báo nhưng áp dụng ngăn chặn, gỡ bỏ đối với tin giả, tin sai sự thật thuộc điểm a khoản 2 Điều 4 Nghị định này;
d) Công bố danh tính cá nhân, tổ chức phát ngôn, làm, lưu trữ, tàng trữ, cung cấp, đăng tải, phát tán, chia sẻ, bình luận tin giả, tin sai sự thật sau khi có kết luận kiểm chứng, xác minh, làm rõ tin giả, tin sai sự thật phải tuân thủ pháp luật về tiếp cận thông tin, trừ trường hợp pháp luật liên quan có quy định khác.”
Việc công bố danh tính cá nhân, tổ chức phát ngôn, làm, lưu trữ, tàng trữ, cung cấp, đăng tải, phát tán, chia sẻ hoặc bình luận tin giả, tin sai sự thật được thực hiện sau khi có kết luận kiểm chứng, xác minh, làm rõ và phải tuân thủ quy định của pháp luật về tiếp cận thông tin, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Như vậy, có thể thấy kết luận kiểm chứng, xác minh, làm rõ là điều kiện quan trọng trước khi thực hiện việc công bố danh tính. Không thể chỉ dựa trên phản ánh của một cá nhân hoặc việc một nội dung bị cộng đồng mạng cho là sai sự thật để mặc nhiên công khai danh tính người đăng tải.
Bên cạnh đó, khoản 3 Điều 11 Nghị định 328/2026/NĐ-CP quy định:
“3. Cơ quan chức năng có thẩm quyền căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả thiệt hại từ tin giả, tin sai sự thật để công bố, cảnh báo tin giả, tin sai sự thật thông qua các hình thức sau:
a) Gửi đến khu dân cư nơi cá nhân, tổ chức phát ngôn, làm, lưu trữ, tàng trữ, đăng tải, phát tán, chia sẻ, bình luận tin giả, tin sai sự thật và khu dân cư nơi bị ảnh hưởng bởi tin giả, tin sai sự thật để công bố, cảnh báo;
b) Gửi đến cơ quan, tổ chức nơi cá nhân làm việc và cơ quan, tổ chức nơi bị ảnh hưởng bởi tin giả, tin sai sự thật để công bố, cảnh báo;
c) Công bố, cảnh báo tin giả, tin sai sự thật trên trang, cổng thông tin hoặc ứng dụng công khai của cơ quan, đơn vị;
d) Công bố, cảnh báo trên cổng thông tin điện tử của các cơ quan chức năng có thẩm quyền trực tiếp kiểm chứng;
đ) Công bố, cảnh báo trên các phương tiện truyền thông đại chúng;
e) Công bố, cảnh báo chính thức cấp nhà nước.”
Theo đó, thông tin có thể được công bố, cảnh báo tại khu dân cư nơi cá nhân, tổ chức liên quan cư trú hoặc khu vực bị ảnh hưởng; gửi đến cơ quan, tổ chức nơi người có hành vi liên quan đang làm việc; công bố trên cổng thông tin điện tử, trang thông tin, ứng dụng của cơ quan có thẩm quyền hoặc thông qua phương tiện truyền thông đại chúng.
Đối với những vụ việc có tác động đặc biệt nghiêm trọng, việc công bố có thể được thực hiện ở cấp nhà nước theo quy định.
Như vậy, công khai danh tính không phải là biện pháp mặc nhiên áp dụng đối với mọi trường hợp có thông tin sai sự thật. Cơ quan có thẩm quyền phải căn cứ vào kết quả xác minh cũng như tính chất, mức độ và hậu quả của vụ việc để lựa chọn hình thức công bố, cảnh báo phù hợp.
TÀI KHOẢN MẠNG XÃ HỘI CÓ THỂ BỊ KHÓA TRONG TRƯỜNG HỢP NÀO?
Bên cạnh việc công bố, cảnh báo, Nghị định 328/2026/NĐ-CP còn đặt ra trách nhiệm đối với doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông, Internet và mạng xã hội trong việc phối hợp xử lý tin giả, tin sai sự thật.
Theo khoản 1 Điều 22 Nghị định 328/2026/NĐ-CP quy định:
“1. Các cá nhân, tổ chức thuộc Điều 2 của Nghị định này trừ doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông, tổ chức, doanh nghiệp cung cấp mạng xã hội, cung cấp thông tin xuyên biên giới có hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam hoặc cung cấp dịch vụ cho tổ chức, cá nhân Việt Nam có trách nhiệm:
a) Tuân thủ pháp luật về phòng, chống tin giả, tin sai sự thật và các quy định liên quan;
b) Phối hợp, trao đổi, cung cấp thông tin với các đơn vị chức năng của Bộ Công an và các cơ quan có thẩm quyền khác tổ chức các mặt công tác phòng, chống tin giả, tin sai sự thật;
c) Tố giác tin giả, tin sai sự thật với các cơ quan có thẩm quyền.”

Các doanh nghiệp thuộc phạm vi điều chỉnh phải thực hiện trách nhiệm phối hợp với cơ quan có thẩm quyền trong công tác phòng, chống tin giả, tin sai sự thật theo quy định của Nghị định.
Cụ thể hơn, điểm đ khoản 2 Điều 22 Nghị định 328/2026/NĐ-CP quy định:
“2. Các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông, tổ chức, doanh nghiệp cung cấp mạng xã hội, cung cấp thông tin xuyên biên giới có hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam hoặc cung cấp dịch vụ cho tổ chức, cá nhân Việt Nam có trách nhiệm sau đây:
….
đ) Thiết lập đầu mối phối hợp 24/7 với cơ quan chức năng của Bộ Công an và các cơ quan có thẩm quyền khác để tiếp nhận yêu cầu gắn nhãn, công bố, cảnh báo, ngăn chặn, gỡ bỏ thông tin sau khi được xác thực là tin giả, tin sai sự thật hoặc khóa tạm thời hoặc vĩnh viễn các tài khoản mạng xã hội, trang cộng đồng, kênh nội dung tin giả, tin sai sự thật hoặc ngăn chặn, gỡ bỏ các ứng dụng tin giả, tin sai sự thật thực hiện theo quy định của pháp luật.”

Như vậy, doanh nghiệp cung cấp mạng xã hội và thông tin xuyên biên giới phải thiết lập đầu mối phối hợp hoạt động liên tục 24 giờ trong ngày, 7 ngày trong tuần với cơ quan chức năng để tiếp nhận và xử lý các yêu cầu liên quan đến tin giả, tin sai sự thật, trong đó có yêu cầu khóa tạm thời hoặc khóa vĩnh viễn tài khoản mạng xã hội, trang cộng đồng, kênh nội dung phát tán tin giả, tin sai sự thật theo quy định.
Quy định này cần được hiểu là không phải cứ một cá nhân đăng tải thông tin bị cho là sai thì tài khoản sẽ tự động bị khóa vĩnh viễn. Việc khóa tài khoản là một biện pháp được thực hiện trong cơ chế phối hợp giữa nền tảng và cơ quan có thẩm quyền, trên cơ sở yêu cầu xử lý theo quy định pháp luật.
Do đó, đối với người sử dụng mạng xã hội, việc đăng tải hoặc chia sẻ những thông tin chưa được kiểm chứng có thể làm phát sinh rủi ro pháp lý nếu nội dung sau đó được xác định là tin giả, tin sai sự thật và thuộc trường hợp phải áp dụng biện pháp xử lý.
Không chỉ cơ quan nhà nước và nền tảng mạng xã hội có trách nhiệm trong việc kiểm soát tin giả, người sử dụng mạng xã hội cũng có cơ chế để chủ động phản ánh những nội dung có dấu hiệu sai sự thật.
NGƯỜI DÂN CÓ THỂ PHẢN ÁNH TIN GIẢ BẰNG CÁCH NÀO?
Theo Điều 13 Nghị định 328/2026/NĐ-CP quy định về tin báo, tố giác, phản ánh tin giả, tin sai sự thật:
“1. Việc xử lý tin báo, tố giác, phản ánh tin giả, tin sai sự thật được thực hiện như sau:
a) Tin báo, tố giác, phản ánh tin giả, tin sai sự thật có dấu hiệu tội phạm thì xử lý theo quy định của pháp luật hình sự và các quy định liên quan;
b) Tin báo, tố giác, phản ánh tin giả, tin sai sự thật khác không thuộc điểm c khoản 5 Điều 5 Nghị định này thì được xử lý theo quy trình xử lý tin giả, tin sai sự thật.
2. Việc báo tin, tố giác, phản ánh thông tin có dấu hiệu giả, sai sự thật được thực hiện thông qua liên hệ trực tiếp, đường dây nóng; qua cổng thông tin điện tử của các cơ quan, bộ, ban, ngành; qua ứng dụng VNeID hoặc gửi văn bản đến các cơ quan, tổ chức theo quy định của pháp luật.
3. Các cá nhân, cơ quan, tổ chức khi phát hiện tin giả, tin sai sự thật có trách nhiệm thông báo với các cơ quan chức năng có thẩm quyền để giải quyết, xử lý theo quy trình xử lý tin giả, tin sai sự thật.
4. Các cơ quan chức năng có thẩm quyền có trách nhiệm tiếp nhận, xử lý nguồn tin theo quy định của pháp luật.
5. Trường hợp phát hiện cá nhân, cơ quan, tổ chức lợi dụng việc báo tin, tố giác tin giả, tin sai sự thật để thực hiện hành vi nghiêm cấm theo quy định của Luật Tiếp công dân thì cơ quan chức năng có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật.”

Như vậy, cá nhân, tổ chức khi phát hiện thông tin có dấu hiệu là tin giả, tin sai sự thật có thể báo tin, tố giác, phản ánh đến cơ quan, tổ chức có thẩm quyền thông qua các hình thức theo quy định.
Việc phản ánh có thể được thực hiện trực tiếp, thông qua đường dây nóng, cổng thông tin điện tử, gửi văn bản hoặc thông qua ứng dụng VNeID theo cơ chế được Nghị định quy định.
Việc thiết lập các kênh phản ánh giúp người dân tham gia vào quá trình phát hiện và xử lý thông tin giả, sai sự thật trên không gian mạng. Tuy nhiên, việc xác định một thông tin có thực sự là tin giả, tin sai sự thật hay không vẫn thuộc quá trình kiểm chứng, xác minh của cơ quan có thẩm quyền, thay vì dựa trên đánh giá chủ quan của người phản ánh.
NGƯỜI SỬ DỤNG MẠNG XÃ HỘI CẦN LƯU Ý GÌ?
Nghị định 328/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 05/10/2026, tạo cơ sở pháp lý cho việc kiểm chứng, xác minh và xử lý tin giả, tin sai sự thật trên không gian mạng.
Đối với người sử dụng mạng xã hội, việc đăng tải, phát tán hoặc chia sẻ thông tin chưa được kiểm chứng cần được cân nhắc thận trọng. Đặc biệt, không nên mặc định rằng việc “chỉ chia sẻ lại” sẽ loại trừ hoàn toàn trách nhiệm pháp lý, bởi người chia sẻ hoặc bình luận vẫn có thể được xác định trong quá trình kiểm chứng, xác minh theo khoản 2 Điều 9 Nghị định 328/2026/NĐ-CP.
Tuy nhiên, cũng cần tránh hiểu rằng mọi thông tin sai hoặc mọi hành vi chia sẻ đều đương nhiên dẫn đến việc công khai danh tính hoặc khóa tài khoản. Các biện pháp này được thực hiện theo kết quả kiểm chứng, xác minh, tính chất, mức độ, hậu quả của vụ việc và yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền theo quy định của Nghị định.
Vì vậy, trước khi đăng tải hoặc chia sẻ một thông tin chưa được kiểm chứng, người dùng nên kiểm tra nguồn tin, đối chiếu với nguồn chính thống và cân nhắc khả năng thông tin có thể ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức hoặc trật tự, an toàn xã hội.
Liên hệ Luật sư tư vấn: 
Trên đây là những phân tích của Công ty Luật Tân Cảng về việc khi nào có thể bị công khai danh tính, khóa tài khoản khi đăng tin giả trên mạng xã hội? Để được tư vấn cụ thể hơn về các vấn đề pháp lý liên quan, cũng như được giải đáp các thắc mắc, được hỗ trợ rà soát hồ sơ pháp lý, đánh giá chứng cứ và xây dựng phương án giải quyết phù hợp khi gặp phải các vướng mắc pháp lý tương tự, quý khách hàng có thể liên hệ với Công ty Luật Tân Cảng qua thông tin bên dưới. Với đội ngũ Luật sư chuyên nghiệp và nhiều kinh nghiệm, Công ty Luật Tân Cảng luôn sẵn sàng lắng nghe những khó khăn và đồng hành cùng quý khách hàng trong suốt quá trình bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Công ty Luật TNHH MTV Tân Cảng
Địa chỉ: Tầng 2, số 85, đường số 13, Khu dân cư Vạn Phúc 1, phường Hiệp Bình, TP. Hồ Chí Minh
Điện thoại: 0965 921 058
Email: luattancang@gmail.com
Website: luattancang.com

 

Đăng ký tư vấn