CHỦ NỢ CÓ ĐƯỢC TỰ Ý LẤY TÀI SẢN CỦA CON NỢ ĐỂ GÁN NỢ HAY KHÔNG?
NGUYÊN TẮC XỬ LÝ TÀI SẢN THEO PHÁP LUẬT DÂN SỰ
Quan hệ vay tài sản được xác lập giữa hai bên có bản chất là hợp đồng vay tài sản theo Điều 463 Bộ luật Dân sự 2015: “Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.” Do đó, chủ nợ chỉ được phép tiếp nhận, xử lý tài sản của con nợ trong hai trường hợp:
- Có sự đồng ý, tự nguyện bàn giao hoặc ủy quyền bằng văn bản từ phía con nợ.
- Thông qua con đường tố tụng: Khởi kiện ra Tòa án và khi bản án/quyết định có hiệu lực pháp luật, Cơ quan Thi hành án dân sự sẽ tiến hành cưỡng chế, kê biên tài sản của con nợ để thi hành nghĩa vụ trả nợ.
Nếu chủ nợ tự ý lấy tài sản mà không có sự đồng ý của con nợ và không thông qua thủ tục tư pháp, tùy theo tính chất và mức độ vi phạm, chủ nợ sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

TRÁCH NHIỆM XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH
Trong trường hợp hành vi lấy tài sản của con nợ chưa đủ yếu tố để truy cứu trách nhiệm hình sự (ví dụ: tài sản chiếm đoạt có giá trị dưới 2.000.000 đồng và con nợ không thuộc các trường hợp định khung hình phạt), chủ nợ vẫn bị xử lý theo quy định tại Điều 18 Nghị định 282/2025/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 30/10/2025 (Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng, chống bạo lực gia đình).
Điều 18. Vi phạm quy định về gây thiệt hại đến tài sản của tổ chức, cá nhân khác
"1. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
a) Trộm cắp tài sản nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc xâm nhập vào khu vực nhà ở, kho bãi hoặc địa điểm khác thuộc quản lý của người khác nhằm mục đích trộm cắp, chiếm đoạt tài sản;
b) Công nhiên chiếm đoạt tài sản nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự;"
TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ
Khi hành vi tự ý lấy tài sản có đủ yếu tố cấu thành tội phạm (tài sản trị giá từ 2.000.000 đồng trở lên hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc các trường hợp do luật định), chủ nợ sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo các tội danh tương ứng:
Trường hợp 1: Tự ý phá khóa, đột nhập lấy tài sản khi con nợ vắng nhà
Hành vi này cấu thành Tội trộm cắp tài sản theo Điều 173 Bộ luật Hình sự.
"Điều 173. Tội trộm cắp tài sản
1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;
b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ;
đ) Tài sản là di vật, cổ vật."
Các yếu tố cấu thành tội phạm:
- Khách thể: Xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được Nhà nước bảo hộ.
- Mặt khách quan: Thực hiện hành vi lén lút, gian dối (như tự ý phá khóa, đột nhập khi chủ nhà vắng mặt) để chiếm đoạt tài sản.
- Chủ thể: Người đạt độ tuổi theo quy định và có năng lực trách nhiệm hình sự.
- Mặt chủ quan: Lỗi cố ý trực tiếp. Chủ nợ biết rõ tài sản thuộc sở hữu của người khác nhưng vẫn cố tình chiếm đoạt, bất chấp hậu quả xảy ra.
Trường hợp 2: Lấy tài sản công khai khi con nợ có mặt nhưng không đe dọa, hay dùng vũ lực.
Nếu chủ nợ đến lấy tài sản công khai trước sự chứng kiến của con nợ hoặc người khác, không dùng vũ lực, không đe dọa hay uy hiếp tinh thần và con nợ không hề ngăn cản thì hành vi này cấu thành Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản theo Điều 172 Bộ luật Hình sự.
"Điều 172. Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản
1. Người nào công nhiên chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;
b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 173, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ."
Các yếu tố cấu thành tội phạm:
- Khách thể: Quyền sở hữu tài sản của cá nhân, tổ chức được pháp luật bảo vệ.
- Mặt khách quan: Chủ động lấy tài sản của người khác một cách công khai mà không dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác để uy hiếp tinh thần người quản lý tài sản; hành vi được thực hiện trước sự chứng kiến của người khác.
- Chủ thể: Người đạt độ tuổi luật định và có năng lực trách nhiệm hình sự.
- Mặt chủ quan: Lỗi cố ý trực tiếp. Chủ nợ biết rõ tài sản không phải của mình nhưng vẫn cố tình lấy bất chấp hậu quả.
Trường hợp 3: Lấy tài sản của con nợ bằng các đe dọa, hay dùng vũ lực.
Hành vi này sẽ cấu thành Tội cướp tài sản theo Điều 168 Bộ luật Hình sự.
"Điều 168. Tội cướp tài sản
1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm."
Các yếu tố cấu thành tội phạm:
- Khách thể: Xâm phạm trực tiếp đến quyền nhân thân (tính mạng, sức khỏe) và quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ.
- Mặt khách quan: Chủ động lấy tài sản của người khác bằng 1 trong những hành vi: dùng vũ lực; đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc; hoặc hành vi khác làm cho người bị tấn công không thể chống cự được.
- Chủ thể: Người đạt độ tuổi luật định và có năng lực trách nhiệm hình sự.
- Mặt chủ quan: Lỗi cố ý trực tiếp. Chủ nợ biết rõ tài sản không phải của mình nhưng vẫn cố tình lấy bất chấp hậu quả.
KẾT LUẬN
Việc tự ý "siết nợ" hay "gán nợ" không qua thỏa thuận hoặc quy trình pháp lý là hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng, có thể bị xử phạt hành chính theo Nghị định 282/2025/NĐ-CP hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo Bộ luật Hình sự. Để bảo vệ quyền, lợi hợp pháp của mình và tránh rủi ro, chủ nợ có thể thực hiện việc thu hồi nợ thông qua các biện pháp thương lượng, hòa giải hoặc khởi kiện tại Tòa án theo đúng trình tự pháp luật quy định.
Liên hệ Luật sư tư vấn:
Trên đây là những phân tích của Công ty Luật Tân Cảng về việc vấn đề xử lý tài sản và thu hồi nợ. Để được tư vấn cụ thể hơn về các vấn đề pháp lý liên quan, cũng như được giải đáp các thắc mắc, được hỗ trợ rà soát hồ sơ pháp lý, đánh giá chứng cứ và xây dựng phương án giải quyết phù hợp khi gặp phải các vướng mắc pháp lý tương tự, quý khách hàng có thể liên hệ với Công ty Luật Tân Cảng qua thông tin bên dưới. Với đội ngũ Luật sư chuyên nghiệp và nhiều kinh nghiệm, Công ty Luật Tân Cảng luôn sẵn sàng lắng nghe những khó khăn và đồng hành cùng quý khách hàng trong suốt quá trình bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Công ty Luật TNHH MTV Tân Cảng
Địa chỉ: Tầng 2, số 85, đường số 13, Khu dân cư Vạn Phúc 1, phường Hiệp Bình, TP. Hồ Chí Minh
Điện thoại: 0965 921 058
Email: luattancang@gmail.com
Website: luattancang.com