EM TRAI MẤT LIÊN LẠC 7 NĂM, DI SẢN CỦA CHA MẸ CÓ ĐƯỢC CHIA CHO CÁC CON CÒN LẠI?

http://luattancang.com

EM TRAI MẤT LIÊN LẠC 7 NĂM, DI SẢN CỦA CHA MẸ CÓ ĐƯỢC CHIA CHO CÁC CON CÒN LẠI?

EM TRAI MẤT LIÊN LẠC 7 NĂM, DI SẢN CỦA CHA MẸ CÓ ĐƯỢC CHIA CHO CÁC CON CÒN LẠI?

Trường hợp người thừa kế mất liên lạc trong thời gian dài nhưng không rõ còn sống hay đã chết có thể khiến việc xác định người thừa kế và thực hiện thủ tục phân chia di sản gặp nhiều khó khăn. Tuy nhiên, việc mất liên lạc trong thời gian dài không đương nhiên làm chấm dứt quyền thừa kế của người này

 Câu hỏi của người dân:

Cha mẹ tôi qua đời năm 2024, có để lại một căn nhà và quyền sử dụng đất nhưng không lập di chúc. Gia đình tôi có 3 anh em, trong đó em trai út đã rời khỏi địa phương và mất liên lạc từ năm 2017, đến nay gia đình vẫn không có tin tức xác thực về việc em còn sống. Nay những người còn lại muốn làm thủ tục phân chia di sản của cha mẹ thì phải xử lý thế nào? Gia đình có được chia phần nhà đất cho những người còn lại hay không?


Luật sư tư vấn:
Trường hợp người thừa kế mất liên lạc trong thời gian dài nhưng không rõ còn sống hay đã chết có thể khiến việc xác định người thừa kế và thực hiện thủ tục phân chia di sản gặp nhiều khó khăn. Tuy nhiên, việc mất liên lạc trong thời gian dài không đương nhiên làm chấm dứt quyền thừa kế của người này.
NGUYÊN TẮC PHÁP LÝ VỀ QUYỀN THỪA KẾ
Căn cứ Điều 613 Bộ luật Dân sự 2015:
"Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế..."
Khi chưa có căn cứ pháp lý xác định một người đã chết, không thể mặc nhiên coi người đó đã chết để loại khỏi hàng thừa kế. Nếu người này còn sống tại thời điểm mở thừa kế thì vẫn được xác định là người thừa kế và có quyền hưởng di sản theo quy định của pháp luật. Việc tự ý loại người em khỏi danh sách người thừa kế có thể làm phát sinh tranh chấp và ảnh hưởng đến hiệu lực của văn bản phân chia di sản về sau.
GIẢI QUYẾT TÌNH TRẠNG PHÁP LÝ CỦA NGƯỜI EM MẤT LIÊN LẠC
Trong trường hợp này, việc người em mất liên lạc hơn 7 năm không đồng nghĩa với việc người em đương nhiên được coi là đã chết. Để có căn cứ xác định người em không còn là người thừa kế tại thời điểm cha mẹ qua đời, gia đình cần thực hiện thủ tục yêu cầu Tòa án tuyên bố người em đã chết theo quy định pháp luật.
Thủ tục yêu cầu Tòa án tuyên bố một người là đã chết:
Về căn cứ pháp lý: Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 71 Bộ luật Dân sự 2015:
“1. Người có quyền, lợi ích liên quan có thể yêu cầu Tòa án ra quyết định tuyên bố một người là đã chết trong trường hợp sau đây:
…
d) Biệt tích 05 năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là còn sống; thời hạn này được tính theo quy định tại khoản 1 Điều 68 của Bộ luật này.”

Do đó, với trường hợp người em đã biệt tích hơn 7 năm và không có tin tức xác thực là còn sống, gia đình có thể trực tiếp yêu cầu Tòa án tuyên bố người này đã chết mà không cần thực hiện thủ tục tuyên bố mất tích trước.
Về thủ tục tố tụng: Căn cứ Điều 391 đến Điều 393 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, sau khi thụ lý đơn yêu cầu, Tòa án thực hiện thủ tục thông báo tìm kiếm thông tin về người bị yêu cầu tuyên bố đã chết theo quy định pháp luật tố tụng dân sự. Sau khi hết thời hạn thông báo tìm kiếm theo quy định, Tòa án tiến hành xem xét yêu cầu; nếu có căn cứ chấp nhận, Tòa án ra quyết định tuyên bố người đó đã chết và xác định ngày chết.
Xác định ngày chết của người em và hệ quả đối với di sản của cha mẹ:
Do cha mẹ qua đời năm 2024, việc người em đã mất liên lạc từ năm 2017 mới chỉ là căn cứ để gia đình yêu cầu Tòa án tuyên bố chết, chưa đủ để tự xác định người em đã chết trước thời điểm cha mẹ qua đời. Kết quả phân chia di sản sẽ phụ thuộc vào ngày chết được Tòa án xác định trong quyết định tuyên bố chết.
Nếu Tòa án xác định ngày chết của người em trước hoặc cùng thời điểm với cha mẹ thì tại thời điểm mở thừa kế, người em không còn sống nên không phát sinh quyền hưởng di sản của cha mẹ. Trường hợp người em có con, các con có thể được thừa kế thế vị phần di sản mà người em đáng lẽ được hưởng nếu còn sống theo Điều 652 Bộ luật Dân sự 2015. Riêng trường hợp chết cùng thời điểm, Điều 619 Bộ luật Dân sự 2015 quy định những người có quyền thừa kế của nhau mà chết cùng thời điểm thì không được thừa kế di sản của nhau.
Ngược lại, nếu Tòa án xác định ngày chết của người em sau thời điểm cha mẹ qua đời, thì tại thời điểm mở thừa kế của cha mẹ, người em vẫn còn sống và đã phát sinh quyền hưởng di sản. Phần di sản này sau đó trở thành di sản của người em và được tiếp tục giải quyết theo quy định pháp luật về thừa kế.
Như vậy, trong tình huống này, gia đình không thể tự ý bỏ tên người em để tiến hành phân chia nhà đất. Trước hết, gia đình cần yêu cầu Tòa án tuyên bố người em đã chết; sau đó căn cứ vào ngày chết được Tòa án xác định để xác định chính xác những người có quyền hưởng di sản của cha mẹ.
THỦ TỤC CÔNG CHỨNG VĂN BẢN PHÂN CHIA DI SẢN THỪA KẾ
Sau khi quyết định của Tòa án tuyên bố người em đã chết có hiệu lực pháp luật, gia đình có thể tiếp tục thực hiện thủ tục phân chia di sản tại tổ chức hành nghề công chứng có thẩm quyền.
Căn cứ Điều 59 Luật Công chứng 2024 quy định về công chứng văn bản phân chia di sản, các giấy tờ chủ yếu cần chuẩn bị gồm:
1. Giấy tờ chứng minh người để lại di sản đã chết (Giấy chứng tử của cha mẹ).
2. Quyết định của Tòa án tuyên bố người em là đã chết (có hiệu lực pháp luật).
3. Giấy tờ chứng minh quan hệ thừa kế giữa người để lại di sản và người được hưởng di sản như giấy khai sinh, Giấy chứng nhận kết hôn và các giấy tờ liên quan khác (nếu có).
4. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất (nếu có).
Liên hệ Luật sư tư vấn:
Trên đây là những phân tích của Công ty Luật Tân Cảng về em trai mất liên lạc 7 năm, gia đình có được chia di sản thừa kế? Để được tư vấn cụ thể hơn về các vấn đề pháp lý liên quan, cũng như được giải đáp các thắc mắc, được hỗ trợ rà soát hồ sơ pháp lý, đánh giá chứng cứ và xây dựng phương án giải quyết phù hợp khi gặp phải các vướng mắc pháp lý tương tự, quý khách hàng có thể liên hệ với Công ty Luật Tân Cảng qua thông tin bên dưới. Với đội ngũ Luật sư chuyên nghiệp và nhiều kinh nghiệm, Công ty Luật Tân Cảng luôn sẵn sàng lắng nghe những khó khăn và đồng hành cùng quý khách hàng trong suốt quá trình bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Công ty Luật TNHH MTV Tân Cảng
Địa chỉ: Tầng 2, số 85, đường số 13, Khu dân cư Vạn Phúc 1, phường Hiệp Bình, TP. Hồ Chí Minh
Điện thoại: 0965 921 058
Email: luattancang@gmail.com
Website: luattancang.com

Đăng ký tư vấn