VỢ CÓ ĐƯỢC ĐƠN PHƯƠNG LY HÔN KHI CHỒNG BỊ MẤT TÍCH?
Câu hỏi của người dân: Tôi và chồng kết hôn hợp pháp từ năm 2018. Khoảng hơn 3 năm nay, chồng tôi bỏ đi khỏi địa phương, cắt đứt mọi liên lạc, gia đình hai bên cũng không biết anh ấy đang ở đâu. Tôi đã nhiều lần tìm kiếm nhưng không có kết quả. Xin hỏi Luật sư, trong trường hợp này tôi có thể tiến hành ly hôn chồng không?

KHI NÀO MỘT NGƯỜI BỊ COI LÀ MẤT TÍCH?
"Điều 68. Tuyên bố mất tích
1. Khi một người biệt tích 02 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án có thể tuyên bố người đó mất tích.
Thời hạn 02 năm được tính từ ngày biết được tin tức cuối cùng về người đó; nếu không xác định được ngày có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của tháng tiếp theo tháng có tin tức cuối cùng; nếu không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng."
Theo quy định tại khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự 2015 để xác định một người mất tích thì ta cần hội tụ đủ các yếu tố sau:
Thứ nhất, người đó phải biệt tích. Có thể hiểu từ biệt tích là người này đã hoàn toàn biến mất, khi đó cho dù đã tiến hành mọi biện pháp thông báo, tìm kiếm nhưng vẫn không nhận được bất kỳ thông tin nào liên quan đến họ.
Thứ hai, thời gian biệt tích phải là 2 năm liền trở lên. Điều kiện này nhấn mạnh thời gian liên tục của việc biến mất. Nếu họ chỉ biến mất trong thời gian 2 năm mà không có sự liên tục thì sẽ chưa đủ căn cứ để Tòa án xem xét là người đó đã thực sự biến mất hay chưa, điều này dẫn đến chưa đảm bảo thời gian luật định.
Thứ ba, thời hạn 2 năm được tính từ ngày biết được tin tức cuối cùng về người mất tích; nếu không xác định được ngày có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của tháng tiếp theo tháng có tin tức cuối cùng; nếu không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng.
Cũng tại khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự 2015 thì chỉ những người có quyền, lợi ích liên quan đến người mất tích mới có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố một người là đã mất tích. Trong trường hợp này bạn là người có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố chồng chị đã mất tích.
CÓ THỂ NỘP ĐƠN LY HÔN ĐỒNG THỜI VỚI VIỆC TUYÊN BỐ CHỒNG MẤT TÍCH ĐƯỢC KHÔNG?
"Điều 51. Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn
1. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.
Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên
2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn."
Theo quy định tại khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 thì pháp luật thừa nhận quyền được ly hôn đơn phương của bạn.
Tuy nhiên, trong trường hợp này, thủ tục ly hôn không thể tiến hành đồng thời với việc tuyên bố một người đã mất tích. Trước hết, bạn phải thực hiện thủ tục yêu cầu Tòa án tuyên bố chồng mất tích theo quy định tại các Điều 387 đến Điều 390 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Trên cơ sở yêu cầu đó, Tòa án sẽ tiến hành thông báo, xác minh và thu thập thông tin để xem xét người chồng có đủ điều kiện bị tuyên bố mất tích hay không. Khi có đủ căn cứ theo quy định của pháp luật, Tòa án sẽ ban hành Quyết định tuyên bố mất tích.
Sau khi quyết định này có hiệu lực pháp luật, bạn có thể căn cứ vào quyết định này để thực hiện thủ tục ly hôn đơn phương theo khoản 2 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
TÒA ÁN NÀO SẼ CÓ THẨM QUYỀN THỤ LÝ ĐƠN VÀ HỒ SƠ CẦN CHUẨN BỊ NHỮNG GÌ?
Yêu cầu của bạn là ly hôn với người chồng mất tích nên sẽ thuộc trường hợp tranh chấp về ly hôn theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
"Điều 28. Những tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án
1. Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn; chia tài sản sau khi ly hôn."
Theo điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án có thẩm quyền giải quyết là Tòa án nơi bị đơn cư trú hoặc làm việc. Trong trường hợp người chồng đã bị tuyên bố mất tích, việc xác định thẩm quyền thường căn cứ vào nơi bị đơn từng cư trú, tạo điều kiện thuận lợi cho việc niêm yết, xác minh và thực hiện các thủ tục tố tụng.
"Điều 39. Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ
1. Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau:
a) Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;"
Hồ sơ bạn cần chuẩn bị là:
- Đơn xin ly hôn đơn phương (Đơn khởi kiện).
- Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn (bản chính hoặc bản trích lục).
- Quyết định tuyên bố mất tích của Tòa án đối với người chồng.
- Bản sao Căn cước công dân/CMND của người nộp đơn.
- Bản sao Giấy khai sinh của các con chung (nếu có).
- Giấy tờ chứng minh quyền sở hữu tài sản chung, nợ chung (nếu có).
NẾU SAU KHI LY HÔN VÀI NĂM CHỒNG TÔI QUAY VỀ THÌ BẢN ÁN LY HÔN CÓ BỊ HỦY KHÔNG?
"Điều 70. Hủy bỏ quyết định tuyên bố mất tích
3. Trường hợp vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích đã được ly hôn thì dù người bị tuyên bố mất tích trở về hoặc có tin tức xác thực là người đó còn sống, quyết định cho ly hôn vẫn có hiệu lực pháp luật."
Theo khoản 3 Điều 70 Bộ luật Dân sự năm 2015, dù người chồng sau này trở về hoặc có tin tức xác thực là còn sống và Tòa án có hủy bỏ Quyết định tuyên bố mất tích thì bản án hoặc quyết định cho ly hôn đã có hiệu lực pháp luật vẫn không bị hủy bỏ. Nói cách khác, quan hệ hôn nhân đã chấm dứt theo bản án hoặc quyết định ly hôn vẫn được pháp luật công nhận.
Kết luận
Tóm lại, trong trường hợp một bên vợ hoặc chồng biệt tích trong thời gian dài, người còn lại vẫn có quyền yêu cầu ly hôn nhưng phải thực hiện đúng trình tự pháp luật quy định. Trước hết, cần yêu cầu Tòa án tuyên bố người đó mất tích theo Điều 68 Bộ luật Dân sự năm 2015; sau khi quyết định tuyên bố mất tích có hiệu lực pháp luật, người còn lại mới có thể yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn theo khoản 2 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Đồng thời, ngay cả khi người bị tuyên bố mất tích trở về sau khi bản án hoặc quyết định ly hôn đã có hiệu lực, quan hệ hôn nhân đã chấm dứt vẫn được pháp luật công nhận theo khoản 3 Điều 70 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Liên hệ Luật sư tư vấn:
Trên đây là những phân tích của Công ty Luật Tân Cảng về việc vấn đề có được đơn phương ly hôn khi một bên bị mất tích. Để được tư vấn cụ thể hơn về các vấn đề pháp lý liên quan, cũng như được giải đáp các thắc mắc, được hỗ trợ rà soát hồ sơ pháp lý, đánh giá chứng cứ và xây dựng phương án giải quyết phù hợp khi gặp phải các vướng mắc pháp lý tương tự, quý khách hàng có thể liên hệ với Công ty Luật Tân Cảng qua thông tin bên dưới. Với đội ngũ Luật sư chuyên nghiệp và nhiều kinh nghiệm, Công ty Luật Tân Cảng luôn sẵn sàng lắng nghe những khó khăn và đồng hành cùng quý khách hàng trong suốt quá trình bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Công ty Luật TNHH MTV Tân Cảng
Địa chỉ: Tầng 2, số 85, đường số 13, Khu dân cư Vạn Phúc 1, phường Hiệp Bình, TP. Hồ Chí Minh
Điện thoại: 0965 921 058
Email: luattancang@gmail.com
Website: luattancang.com