CÓ ĐƯỢC ĐƯƠNG NHIÊN ĐĂNG HÌNH ẢNH KẺ TRỘM LÊN MẠNG?

http://luattancang.com

CÓ ĐƯỢC ĐƯƠNG NHIÊN ĐĂNG HÌNH ẢNH KẺ TRỘM LÊN MẠNG?

CÓ ĐƯỢC ĐƯƠNG NHIÊN ĐĂNG HÌNH ẢNH KẺ TRỘM LÊN MẠNG?

Việc đăng hình ảnh của kẻ trộm lên các trang mạng xã hội thì có được hay không, gia đình của kẻ trộm có cơ sở nào để kiện chủ thể thực hiện hành vi về việc xâm phạm hình ảnh của kẻ trộm hay không?

Câu hỏi của người dân: Trong 1 tháng nay, vào cuối ngày làm việc tôi vẫn thường xuyên kiểm tra lại hàng hóa và thống kê lại số lượng cũng như doanh thu hằng ngày của cửa hàng. Qua quá trình kiểm tra tôi thấy số lượng hàng hóa mà tôi mua vào và bán ra trên sổ sách có sự chênh lệch, không khớp. Nhận thấy lỗi này không đến từ phía mình hay do nhà cung cấp giao thiếu đồ, tôi đã kiểm tra lại camera trong 1 tháng thì phát hiện, những lúc cửa hàng tôi đông khách thì lại có một cậu bé khoảng chừng lớp 8, lớp 9 đến và trộm một số món đồ của cửa hàng, hành vi này diễn ra 5 lần trong tháng.
Do quá nóng giận, tôi đã tự xử lý bằng cách đăng lại diễn biến mà cậu bé này lấy cắp đồ tại cửa hàng tôi với mục đích tìm kiếm phụ huynh cậu bé, cũng như để cảnh báo với mọi người trong khu vực này biết. Sau khi đăng clip đó lên các trang mạng xã hội như tiktok, facebook,... tôi được rất nhiều người đồng cảm, qua phần bình luận các chủ cửa hàng trong khu vực tôi đang sinh sống cũng ghi nhận thông tin đã bị cậu bé trong clip tôi đăng tải đến trộm đồ vài lần. Phụ huynh của cậu bé cũng đã nhắn tin với tôi để giải quyết và yêu cầu tôi gỡ các bài đăng trên trang mạng xã hội nếu không họ sẽ kiện tôi về việc xâm phạm hình ảnh của người khác.
Xin hỏi luật sư, việc tôi đăng hình ảnh của cậu bé lên các trang mạng xã hội thì có được hay không, phụ huynh của cậu bé có cơ sở nào để kiện tôi việc xâm phạm hình ảnh của cậu bé hay không?

HÌNH ẢNH CÁ NHÂN CÓ PHẢI LÀ DỮ LIỆU CÁ NHÂN?
Điều 2 Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân 2025 quy định:
"1. Dữ liệu cá nhân là dữ liệu số hoặc thông tin dưới dạng khác xác định hoặc giúp xác định một con người cụ thể, bao gồm: dữ liệu cá nhân cơ bản và dữ liệu cá nhân nhạy cảm. Dữ liệu cá nhân sau khi khử nhận dạng không còn là dữ liệu cá nhân.”
Điều 3 của Nghị định 356/2025/NĐ-CP ban hành ngày 31/12/2025 Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành luật bảo vệ dữ liệu cá nhân quy định:
"Điều 3. Danh mục dữ liệu cá nhân cơ bản
Dữ liệu cá nhân cơ bản bao gồm:
1. Họ, chữ đệm và tên khai sinh, tên gọi khác (nếu có);
2. Ngày, tháng, năm sinh; ngày, tháng, năm chết hoặc mất tích;
3. Giới tính;
4. Nơi sinh, nơi đăng ký khai sinh, nơi đăng ký thường trú, nơi đăng ký tạm trú, nơi ở hiện tại, quê quán, địa chỉ liên hệ;
5. Quốc tịch;
6. Hình ảnh của cá nhân;
7. Số điện thoại, số định danh cá nhân, số hộ chiếu, số giấy phép lái xe, số biển số xe;
8. Tình trạng hôn nhân;
9. Thông tin về mối quan hệ gia đình (cha mẹ, con, vợ, chồng);
10. Thông tin về tài khoản số của cá nhân;
11. Các thông tin khác gắn liền với một con người cụ thể hoặc giúp xác định một con người cụ thể không thuộc quy định tại Điều 4 Nghị định này."

Từ hai căn cứ pháp lý nêu trên, có thể thấy hình ảnh của cá nhân là một loại dữ liệu cá nhân cơ bản. Dữ liệu cá nhân có nội hàm rộng hơn, bởi khả năng xác định hoặc giúp xác định một con người cụ thể không chỉ thông qua hình ảnh mà còn thông qua nhiều loại thông tin khác như họ tên, số điện thoại, số định danh cá nhân, địa chỉ, thông tin về tài khoản số và các thông tin khác gắn liền với một con người cụ thể. Do đó, hình ảnh của cá nhân là một bộ phận thuộc phạm vi dữ liệu cá nhân, trong khi dữ liệu cá nhân bao quát nhiều loại thông tin khác nhau có khả năng xác định hoặc giúp xác định một con người cụ thể.
KHI SỬ DỤNG HÌNH ẢNH CỦA NGƯỜI KHÁC CÓ CẦN PHẢI XIN PHÉP?
Căn cứ Điều 32 Bộ luật Dân sự 2015 (gọi tắt là “BLDS 2015”) quy định về Quyền của cá nhân đối với hình ảnh:
"1. Cá nhân có quyền đối với hình ảnh của mình.
Việc sử dụng hình ảnh của cá nhân phải được người đó đồng ý.
Việc sử dụng hình ảnh của người khác vì mục đích thương mại thì phải trả thù lao cho người có hình ảnh, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
2. Việc sử dụng hình ảnh trong trường hợp sau đây không cần có sự đồng ý của người có hình ảnh hoặc người đại diện theo pháp luật của họ:
a) Hình ảnh được sử dụng vì lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng;
b) Hình ảnh được sử dụng từ các hoạt động công cộng, bao gồm hội nghị, hội thảo, hoạt động thi đấu thể thao, biểu diễn nghệ thuật và hoạt động công cộng khác mà không làm tổn hại đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của người có hình ảnh.
3. Việc sử dụng hình ảnh mà vi phạm quy định tại Điều này thì người có hình ảnh có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định buộc người vi phạm, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan phải thu hồi, tiêu hủy, chấm dứt việc sử dụng hình ảnh, bồi thường thiệt hại và áp dụng các biện pháp xử lý khác theo quy định của pháp luật."

Như vậy, để sử dụng hình ảnh cá nhân của người khác thì bạn phải được sự cho phép của họ. Tuy nhiên pháp luật cũng có ngoại lệ đối với trường hợp sử dụng hình ảnh của cá nhân mà không cần sự xin phép được quy định tại khoản 2 Điều 32 BLDS 2015.
Điều 2 Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân 2025 quy định:
"1. Dữ liệu cá nhân là dữ liệu số hoặc thông tin dưới dạng khác xác định hoặc giúp xác định một con người cụ thể, bao gồm: dữ liệu cá nhân cơ bản và dữ liệu cá nhân nhạy cảm. Dữ liệu cá nhân sau khi khử nhận dạng không còn là dữ liệu cá nhân.”
Điều 16 Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân 2025 quy định về Công khai dữ liệu cá nhân:
“1. Dữ liệu cá nhân chỉ được công khai với mục đích cụ thể. Phạm vi công khai, loại dữ liệu cá nhân được công khai phải phù hợp với mục đích công khai. Việc công khai dữ liệu cá nhân không được xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của chủ thể dữ liệu cá nhân.
2. Dữ liệu cá nhân chỉ được công khai trong các trường hợp sau đây:
a) Khi có sự đồng ý của chủ thể dữ liệu cá nhân;
b) Thực hiện theo quy định của pháp luật;
c) Trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều 19 của Luật này;
d) Thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng.”

Ngoài ra, theo khoản 1 Điều 2 Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân 2025 thì việc bạn đăng hình ảnh về hành vi trộm đồ của cậu bé là bạn đang sử dụng dữ liệu cá nhân của cậu bé vì đây là hành vi bạn đưa thông tin dưới dạng hình ảnh, video cho người khác (qua mạng xã hội) và thông qua đó nhưng người đó có thể xác định cụ thể cậu bé đó là ai. Hành vi công khai của bạn chỉ được thực hiện trong trường hợp tại Điều 16 của Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân 2025 đó là: Khi có sự đồng ý của chủ thể dữ liệu cá nhân; khi việc công khai được thực hiện theo quy định của pháp luật; trong trường hợp thuộc điểm b khoản 1 Điều 19 của luật liên quan đến giải quyết tình trạng khẩn cấp, nguy cơ đe dọa an ninh quốc gia, phòng chống bạo loạn, khủng bố, tội phạm và vi phạm pháp luật; hoặc khi cần thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng. Việc công khai phải có mục đích cụ thể; phạm vi và loại dữ liệu công khai phải phù hợp với mục đích công khai; đồng thời việc công khai không được xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của chủ thể dữ liệu.
Trong trường hợp trên, bạn đã đăng hình ảnh của cậu bé mà chưa được sự cho phép của cậu bé hay gia đình cậu bé là chưa được. Bạn cũng không thể dựa vào hành vi trộm đó của cậu bé để xác định cậu bé là tội phạm và cho rằng việc mình công khai hình ảnh của cậu bé là phù hợp theo điểm c khoản 2 Điều 16 Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân 2025 là trường hợp công khai thông tin tội phạm.
"Điều 8. Khái niệm tội phạm
1. Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự.
2. Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác"

"Điều 12. Tuổi chịu trách nhiệm hình sự
1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác.
2.[6] Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 của Bộ luật này."

Dựa trên lời kể của bạn thì cậu bé đó đang là học sinh lớp 8 đến lớp 9 tức đang trong độ tuổi 13 đến 14 tuổi. Theo Điều 8 của BLHS 2015 thì để kết luận 1 người là tội phạm thì phải chứng minh được đầy đủ 4 yếu tố cấu thành tội phạm. Việc bạn cho rằng hành vi trộm đồ của cậu bé đã đủ kết luận cậu bé là tội phạm là chưa đúng vì đối với trường hợp này cậu bé chỉ tầm 13 tuổi, chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, nếu cậu bé đủ 14 tuổi thì cũng chưa thể xác định là tội phạm vì đối với người từ đủ 14 tuổi thì hành vi trộm cắp tài sản của người đó phải gây ra hậu quả nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng mới đủ yếu tố để cấu thành tội phạm.
Vậy việc bạn đăng hình ảnh của cậu bé lên các trang mạng xã hội có thể vi phạm theo quy định tại khoản 1 Điều 32 BLDS 2015 và điểm a, c khoản 2 Điều 16 Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân 2025.
Trên cơ sở đó, phụ huynh của cậu bé có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án ra quyết định buộc bạn phải gỡ các hình ảnh, video liên quan đến cậu bé trên các trang mạng xã hội; yêu cầu bạn bồi thường thiệt hại; công khai đính chính, xin lỗi…
Ngoài ra theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 50 Nghị định số 330/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh mạng và bảo vệ dữ liệu cá nhân thì bạn còn có thể bị phạt vi phạm hành chính về công khai dữ liệu cá nhân.
Cụ thể mức phạt như sau:
Điều 50. Vi phạm quy định về công khai dữ liệu cá nhân
“1. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
a) Công khai dữ liệu cá nhân không có mục đích cụ thể, không thuộc trường hợp được phép công khai theo quy định pháp luật; [...]”

Liên hệ Luật sư tư vấn:
Trên đây là những phân tích của Công ty Luật Tân Cảng về việc vấn đề công khai hình ảnh, dữ liệu cá nhân trên mạng xã hội. Để được tư vấn cụ thể hơn về các vấn đề pháp lý liên quan, cũng như được giải đáp các thắc mắc, được hỗ trợ rà soát hồ sơ pháp lý, đánh giá chứng cứ và xây dựng phương án giải quyết phù hợp khi gặp phải các vướng mắc pháp lý tương tự, quý khách hàng có thể liên hệ với Công ty Luật Tân Cảng qua thông tin bên dưới. Với đội ngũ Luật sư chuyên nghiệp và nhiều kinh nghiệm, Công ty Luật Tân Cảng luôn sẵn sàng lắng nghe những khó khăn và đồng hành cùng quý khách hàng trong suốt quá trình bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Công ty Luật TNHH MTV Tân Cảng
Địa chỉ: Tầng 2, số 85, đường số 13, Khu dân cư Vạn Phúc 1, phường Hiệp Bình, TP. Hồ Chí Minh
Điện thoại: 0965 921 058
Email: luattancang@gmail.com
Website: luattancang.com

 

 

 

 

Đăng ký tư vấn