KHÔNG ĐƯỢC CHIA DI SẢN THEO DI CHÚC, VỢ CÓ ĐƯỢC HƯỞNG DI SẢN CỦA CHỒNG KHÔNG?
Câu hỏi của người dân: Tôi và chồng kết hôn với nhau vào năm 2015 và có với nhau hai người con chung là A và B, tài sản chung là căn biệt thự định giá 2 tỷ 4 trăm triệu đồng. Đầu năm 2025 tôi phát hiện chồng ngoại tình và có một người con riêng là C nên chúng tôi đã sống ly thân cho đến khi chồng gặp tai nạn. Trước lúc mất, chồng tôi đã lập di chúc để lại phần di sản thừa kế cho hai con chung và người con riêng của ông. Nhưng tôi và chồng vẫn chưa thực hiện thủ tục ly hôn nên chúng tôi vẫn là vợ chồng hợp pháp. Vậy tôi quyền yêu cầu phân chia tài sản chung và đòi quyền lợi di sản thừa kế hay không?
.png)
Luật sư tư vấn:
Trong xã hội hiện nay, tình trạng các cặp vợ chồng dù mâu thuẫn trầm trọng, đã sống ly thân nhiều năm nhưng chưa thực hiện thủ tục ly hôn về mặt pháp lý diễn ra rất phổ biến. Mối quan hệ “hôn nhân trên danh nghĩa” này thường phát sinh tranh chấp tài sản gay gắt khi một bên đột ngột qua đời, đặc biệt là trường hợp người chết lập di chúc định đoạt toàn bộ tài sản cho người khác mà truất quyền của người vợ/chồng còn sống.
DI CHÚC LÀ GÌ?
Trước hết, di sản được quy định tại Điều 612 Bộ luật Dân sự năm 2015 bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác. Và theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về chế độ tài sản của vợ chồng thì khi một bên mất, phần di sản sẽ được xác định là phần tài sản chung chia đôi.
Và để định đoạt khối di sản này thì theo quy định tại Điều 609 Bộ luật Dân sự năm 2015: “Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình;...” và theo Điều 624 Bộ luật này thì “Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết.”. Như vậy, di chúc mang bản chất pháp lý là một giao dịch dân sự đơn phương, thể hiện ý chí của một bên là người lập di chúc và chỉ có hiệu lực pháp luật kể từ thời điểm mở thừa kế. Di chúc được xem là hợp pháp và có thể phát sinh hiệu lực khi đáp ứng các điều kiện được quy định tại Điều 630 Bộ luật Dân sự năm 2015. Trong đó bao gồm cả điều kiện về hình thức di chúc được quy định từ Điều 627 đến Điều 629 Bộ luật này.

ƯU TIÊN CHIA DI SẢN THEO DI CHÚC HAY THEO PHÁP LUẬT?
Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, người thừa kế có thể được hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật. Tuy nhiên, tinh thần của Bộ luật này đề cao ý chí tự quyết của cá nhân để lại di sản khi ưu tiên chia di sản theo di chúc trong trường hợp cá nhân chết có di chúc. Cụ thể tại khoản 1 Điều 650 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:
“1. Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp sau đây:
a) Không có di chúc;
b) Di chúc không hợp pháp;
c) Những người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế;
d) Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.”
Đây là nguyên tắc tôn trọng và đề cao quyền tự quyết, ý chí định đoạt của cá nhân đối với tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của họ lên hàng đầu: Nếu người chết để lại di chúc hợp pháp, di sản bắt buộc phải được phân chia theo ý chí của người lập di chúc. Pháp luật chỉ can thiệp và áp dụng hình thức thừa kế theo pháp luật, chia đều theo các hàng thừa kế tại Điều 651 Bộ luật này khi thuộc các trường hợp khuyết thiếu ý chí tự quyết.
TRƯỜNG HỢP ĐẶC BIỆT THEO ĐIỀU 644 BỘ LUẬT DÂN SỰ
Mặc dù đề cao ý chí tự do cá nhân, pháp luật vẫn đặt ra một “ranh giới đỏ” tại Điều 644 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc để bảo vệ các đối tượng yếu thế gồm: con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng, hoặc con đã thành niên nhưng không có khả năng lao động vẫn luôn được pháp luật bảo vệ bảo đảm một suất di sản tối thiểu (bằng 2/3 suất theo pháp luật).
Quy định này là một trong những điểm đặc sắc và mang tính nhân văn sâu sắc nhất của pháp luật dân sự Việt Nam nhằm ngăn ngừa tình trạng người để lại di sản vì cảm tính cá nhân mà bỏ mặc những người có quan hệ ruột thịt gắn liền với nghĩa vụ nuôi dưỡng. Vì trong nhiều trường hợp, người lập di chúc ở giai đoạn cuối đời có thể bị tác động bởi tâm lý tiêu cực, sự lừa dối, hoặc vì tình cảm nhất thời (ví dụ như trong trường hợp trên là vì ngoại tình và đã sống ly thân với người vợ) dẫn đến việc để lại toàn bộ tài sản cho người ngoài và bỏ mặc gia đình, những người đã gắn bó và có công chăm sóc đối với họ lúc sinh thời.
VÍ DỤ THỰC TẾ
Trong trường hợp này, người vợ đã gắn bó với chồng hơn 10 năm và cùng xây dựng cơ nghiệp. Tuy nhiên, chồng đã phát sinh mối quan hệ ngoài luồng và có con riêng dẫn tới việc gia đình rạn nứt và đã để lại di chúc cho các con mà quên đi người đầu ấp tay gối với mình. Di chúc được lập bằng miệng và sẽ có hiệu lực pháp luật khi đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định tại Điều 630 Bộ luật Dân sự năm 2015. Đây là ý chí của người chồng trước khi chết và sẽ được pháp luật tôn trọng. Tuy nhiên, tại thời điểm mở thừa kế, tức là người chồng mất, quan hệ hôn nhân giữa họ vẫn tồn tại hợp pháp nên người vợ thuộc đối tượng được pháp luật ưu tiên bảo vệ theo Điều 644 Bộ luật này. Chính vì thế, dù không được hưởng di sản theo di chúc nhưng người vợ vẫn có thể được hưởng ⅔ phần di sản theo pháp luật. Cụ thể như sau:
Phần di sản của người chồng bao gồm: 2 tỷ 400 triệu đồng (định giá biệt thự là tài sản chung của vợ chồng) / 2= 1 tỷ 200 triệu đồng
Giả sử không có di chúc thì theo quy định tại Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015 phần di sản này được chia đều như sau: Vợ = A = B = C = 1 tỷ 200 triệu đồng /4 = 300 triệu đồng
Vậy người vợ sẽ được nhận phần di sản bằng ⅔ của 300 triệu đồng là 200 triệu đồng. Những người được thừa kế theo pháp luật phải trích lại phần di sản mà mình được nhận cho người vợ này đủ 200 triệu đồng như trên. Người vợ có thể nộp đơn yêu cầu Tòa án giải quyết về tranh chấp này.
Liên hệ Luật sư tư vấn:
Trên đây là những phân tích của Công ty Luật Tân Cảng về trường hợp người vợ hợp pháp không được hưởng thừa kế của chồng theo di chúc. Để được tư vấn cụ thể hơn về các vấn đề pháp lý liên quan, cũng như được giải đáp các thắc mắc, được hỗ trợ rà soát hồ sơ pháp lý, đánh giá chứng cứ và xây dựng phương án giải quyết phù hợp khi gặp phải các vướng mắc pháp lý tương tự, quý khách hàng có thể liên hệ với Công ty Luật Tân Cảng qua thông tin bên dưới. Với đội ngũ Luật sư chuyên nghiệp và nhiều kinh nghiệm, Công ty Luật Tân Cảng luôn sẵn sàng lắng nghe những khó khăn và đồng hành cùng quý khách hàng trong suốt quá trình bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Công ty Luật TNHH MTV Tân Cảng
Địa chỉ: Tầng 2, số 85, đường số 13, Khu dân cư Vạn Phúc 1, phường Hiệp Bình, TP. Hồ Chí Minh
Điện thoại: 0965 921 058
Email: luattancang@gmail.com
Website: luattancang.com