NGƯỜI LÀM CÔNG GÂY THIỆT HẠI, CHỦ CỬA HÀNG CÓ NGHĨA VỤ BỒI THƯỜNG KHÔNG?
Câu hỏi của người dân: Tôi chuyên kinh doanh mặt hàng rau củ tại địa bàn TP. Hồ Chí Minh, A là nhân viên được phân công vận chuyển rau củ từ cửa hàng đến các kênh phân phối nhỏ lẻ bằng xe ô tô tải theo tuyến đường đã định và được trả công theo từng chuyến hàng. Ngày 01/7/2026, sau khi hoàn tất chuyến hàng cuối cùng, A tự ý thay đổi lộ trình về để đi đón con tan học. Trong lúc đó, A đã có va quẹt với một chiếc ôtô con và gây ra thiệt hơn cho chủ xe. Bị yêu cầu bồi thường thiệt hại, A cho rằng mình gây thiệt hại trong lúc đang thực hiện công việc được công ty phân công nên yêu cầu công ty thanh toán khoản bồi thường này. Vậy tôi có phải thực hiện việc thanh toán này không?
.png)
Luật sư tư vấn:
Một hiện tượng rất phổ biến trong đời sống xã hội là việc người lao động tranh thủ sử dụng phương tiện của công ty để giải quyết việc riêng như đi chợ, đón con, gặp gỡ bạn bè sau hoặc trong giờ làm việc rồi vô ý gây thiệt hại cho bên thứ ba.
Vướng mắc và bất cập lớn nhất trong các vụ việc này nằm ở khâu xác định ranh giới trách nhiệm. Khi tai nạn xảy ra, ranh giới giữa việc “trong khi thực hiện nhiệm vụ được pháp nhân giao ”; “trong khi thực hiện công việc được giao” và “đang giải quyết việc riêng” thường rất mờ nhạt và dễ gây tranh cãi. Người lao động có xu hướng đùn đẩy trách nhiệm cho người sử dụng lao động với lý do họ vẫn đang trong thời gian làm việc và sử dụng xe của công ty. Từ thực trạng đó, câu hỏi pháp lý cần giải quyết là: Trong trường hợp người lao động tự ý thay đổi lộ trình được phân công để giải quyết việc riêng và gây tai nạn giao thông, trách nhiệm bồi thường thiệt hại thuộc về cá nhân người lao động hay thuộc về người sử dụng lao động?
BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI LÀ GÌ?
Bồi thường thiệt hại (BTTH) là một chế định pháp lý mang tính chất khôi phục và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bên bị xâm phạm trong các quan hệ pháp luật. Xét dưới góc độ pháp lý, bồi thường thiệt hại được hiểu theo hai tầng nghĩa: là một hình thức trách nhiệm dân sự và là một biện pháp khắc phục hậu quả.
BTTH được giải thích theo quy định tại Điều 13 Bộ luật Dân sự 2015 như sau: “Cá nhân, pháp nhân có quyền dân sự bị xâm phạm được bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.” Quy định này có thể hiểu là bên có hành vi vi phạm bao gồm vi phạm hợp đồng hoặc thực hiện hành vi trái pháp luật xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác phải dùng tài sản của mình để bù đắp, khắc phục những tổn thất thực tế về vật chất và tinh thần mà mình đã gây ra cho bên bị thiệt hại.
PHÂN LOẠI BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, BTTH được chia thành:
BTTH trong hợp đồng: Phát sinh khi một bên không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã thỏa thuận trong hợp đồng hợp pháp. Theo quy định tại Điều 360 Bộ luật Dân sự năm 2015, yếu tố lỗi không phải là yếu tố bắt buộc làm phát sinh nghĩa vụ BTTH và bên bị vi phạm chỉ cần chứng minh có hành vi vi phạm hợp đồng và có thiệt hại thực tế xảy ra. Việc BTTH sẽ được ưu tiên giải quyết sự thỏa thuận của các bên về giới hạn mức bồi thường tối đa được ghi trong hợp đồng trước khi vi phạm xảy ra.
BTTH ngoài hợp đồng: Phát sinh khi có hành vi trái pháp luật xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản... của người khác mà giữa các bên không có hợp đồng theo quy định tại Điều 584 Bộ luật Dân sự năm 2015. Việc BTTH ngoài hợp đồng phải được thực hiện theo nguyên tắc bồi thường toàn bộ và kịp thời những thiệt hại thực tế. Khác với BTTH trong hợp đồng, theo khoản 2 Điều 585 Bộ luật này, dù yếu tố lỗi không còn là yếu tố bắt buộc để làm phát sinh trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng nhưng có thể là tiêu chí để xem xét giảm mức BTTH ngoài hợp đồng.
NHƯ THẾ NÀO LÀ “TRONG KHI THỰC HIỆN NHIỆM VỤ ĐƯỢC PHÁP NHÂN GIAO”; “TRONG KHI THỰC HIỆN CÔNG VIỆC ĐƯỢC GIAO”?
Khi người lao động thực hiện công việc được giao mà gây ra thiệt hại, thì người sử dụng lao động phải đứng ra bồi thường cho bên thứ ba. Đây là cơ chế bồi thường mang tính chất trách nhiệm gián tiếp, nhằm đảm bảo người bị thiệt hại dễ dàng được bồi thường đầy đủ và kịp thời. Và trường hợp này được xác định là BTTH ngoài hợp đồng.
Theo đó, người sử dụng lao động có thể phải bồi thường thay cho người lao động trong những trường hợp nhất định:
“Điều 597. Bồi thường thiệt hại do người của pháp nhân gây ra
Pháp nhân phải bồi thường thiệt hại do người của mình gây ra trong khi thực hiện nhiệm vụ được pháp nhân giao; nếu pháp nhân đã bồi thường thiệt hại thì có quyền yêu cầu người có lỗi trong việc gây thiệt hại phải hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật.”
“Điều 600. Bồi thường thiệt hại do người làm công, người học nghề gây ra
Cá nhân, pháp nhân phải bồi thường thiệt hại do người làm công, người học nghề gây ra trong khi thực hiện công việc được giao và có quyền yêu cầu người làm công, người học nghề có lỗi trong việc gây thiệt hại phải hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật.”
Khi xác định trách nhiệm bồi thường của người sử dụng lao động đối với thiệt hại phát sinh từ hành vi của người lao động, pháp luật dân sự Việt Nam đặt trọng tâm vào hai yếu tố cốt lõi:
Người gây ra thiệt hại phải thuộc phạm vi chịu sự quản lý của bên sử dụng lao động, dưới các danh xưng pháp lý như “người của pháp nhân” hay “người làm công”.
Thiệt hại phải phát sinh trong phạm vi thực hiện công việc được giao. Nói cách khác, thiệt hại phải xảy ra trong khi người lao động đang thực hiện nhiệm vụ theo yêu cầu của người sử dụng lao động.
Nếu người của pháp nhân hay người làm công, người học nghề gây ra thiệt hại ngoài phạm vi thực hiện công việc được giao thì cá nhân, tổ chức sử dụng lao động không phát sinh nghĩa vụ BTTH này.
THỰC TIỄN
Trong trường hợp trên, A là người làm công của cửa hàng kinh doanh rau củ và được giao nhiệm vụ giao hàng đến những kênh phân phối nhỏ lẻ nhưng đã chấm dứt phạm vi công việc được giao tại thời điểm gây ra thiệt hại. Nghĩa là nhiệm vụ vận chuyển rau củ của chuyến hàng đó đã kết thúc thành công, mục đích vì lợi ích kinh doanh đối với chuyến hàng đó đã hoàn thành. Việc anh A “tự ý thay đổi lộ trình” là hành vi tự ý phá vỡ quy trình quản lý, không tuân thủ mệnh lệnh của người sử dụng lao động. Và việc anh A lái xe đi "đón con tan học" hoàn toàn là công việc cá nhân, nhằm giải quyết nhu cầu gia đình riêng của anh A, không nhằm thực hiện công việc theo phân công của người sử dụng lao động. Chính vì thế, hành vi của A không thỏa điều kiện để được xem là “trong khi thực hiện công việc được giao”.
Vậy nên, người sử dụng lao động không bị ràng buộc bởi nghĩa vụ BTTH ngoài hợp đồng được quy định tại Điều 600 Bộ luật Dân sự năm 2015 trong trường hợp này.
Liên hệ Luật sư tư vấn:
Trên đây là những phân tích của Công ty Luật Tân Cảng về nghĩa vụ bồi thường thiệt hại của người sử dụng lao động trong trường hợp người làm công gây ra thiệt hại nhưng không thuộc trường hợp “trong khi thực hiện công việc được giao”. Để được tư vấn cụ thể hơn về các vấn đề pháp lý liên quan, cũng như được giải đáp các thắc mắc, được hỗ trợ rà soát hồ sơ pháp lý, đánh giá chứng cứ và xây dựng phương án giải quyết phù hợp khi gặp phải các vướng mắc pháp lý tương tự, quý khách hàng có thể liên hệ với Công ty Luật Tân Cảng qua thông tin bên dưới. Với đội ngũ Luật sư chuyên nghiệp và nhiều kinh nghiệm, Công ty Luật Tân Cảng luôn sẵn sàng lắng nghe những khó khăn và đồng hành cùng quý khách hàng trong suốt quá trình bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Công ty Luật TNHH MTV Tân Cảng
Địa chỉ: Tầng 2, số 85, đường số 13, Khu dân cư Vạn Phúc 1, phường Hiệp Bình, TP. Hồ Chí Minh
Điện thoại: 0965 921 058
Email: luattancang@gmail.com
Website: luattancang.com